17/10/2026 - 11:03

Điều kiện đăng ký kết hôn là vấn đề cần tìm hiểu trước khi hai người xác lập quan hệ vợ chồng theo pháp luật. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể về độ tuổi, sự tự nguyện, năng lực hành vi dân sự và các trường hợp không được kết hôn. Ngoài việc đáp ứng những điều kiện này, nam và nữ còn phải thực hiện thủ tục đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền để hôn nhân được pháp luật công nhận.

1. Điều kiện đăng ký kết hôn theo pháp luật hiện hành

Theo Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nam và nữ kết hôn với nhau phải đáp ứng các điều kiện cơ bản sau:

  • Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.
  • Việc kết hôn do hai bên tự nguyện quyết định.
  • Hai bên không bị mất năng lực hành vi dân sự.
  • Việc kết hôn không thuộc các trường hợp bị cấm theo quy định pháp luật.

Bên cạnh đó, Điều 9 của luật quy định việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Nếu không đăng ký theo quy định, quan hệ kết hôn không có giá trị pháp lý, dù hai người đã tổ chức lễ cưới hoặc chung sống với nhau như vợ chồng.

Như vậy, điều kiện kết hôn và thủ tục đăng ký kết hôn là hai vấn đề có liên quan nhưng không hoàn toàn giống nhau. Hai người cần đáp ứng điều kiện luật định, đồng thời hoàn tất việc đăng ký theo đúng thẩm quyền và trình tự.

Điều kiện đăng ký kết hôn theo pháp luật hiện hành

2. Điều kiện về độ tuổi kết hôn

Nam phải từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi

Pháp luật quy định nam phải từ đủ 20 tuổi trở lên và nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên mới đáp ứng điều kiện về độ tuổi kết hôn.

Từ “đủ” có nghĩa là người đăng ký kết hôn đã đến ngày sinh nhật tương ứng với độ tuổi luật định. Ví dụ, một người nữ sinh ngày 15/8/2008 thì đến ngày 15/8/2026 mới đủ 18 tuổi. Trước thời điểm đó, người này chưa đáp ứng điều kiện về độ tuổi kết hôn.

Độ tuổi được xác định dựa trên ngày, tháng, năm sinh của mỗi người theo giấy tờ hộ tịch và giấy tờ nhân thân hợp lệ. Nếu thông tin ngày sinh chưa đầy đủ hoặc có sai lệch, cần thực hiện việc xác minh, điều chỉnh theo quy định trước khi tiến hành thủ tục nếu cần thiết.

Người chưa đủ tuổi có được đăng ký kết hôn không?

Người chưa đáp ứng độ tuổi luật định không đủ điều kiện đăng ký kết hôn, kể cả khi hai bên tự nguyện hoặc gia đình đồng ý. Việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi theo luật được gọi là tảo hôn. Đây là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm.

Vì vậy, gia đình không thể thay thế sự đáp ứng điều kiện về tuổi bằng sự đồng thuận của cha mẹ hoặc người thân. Hai bên cần chờ đến khi đủ tuổi và đáp ứng đầy đủ các điều kiện khác trước khi đăng ký kết hôn.

Điều kiện về độ tuổi kết hôn

3. Kết hôn phải xuất phát từ sự tự nguyện

Hai bên tự quyết định việc kết hôn

Một điều kiện đăng ký kết hôn quan trọng là nam và nữ phải tự nguyện quyết định việc xác lập quan hệ vợ chồng. Mỗi người cần có ý chí thực sự muốn kết hôn, không bị ép buộc hoặc bị đe dọa phải đồng ý.

Sự tự nguyện không chỉ thể hiện ở việc hai bên cùng có mặt khi đăng ký. Cơ quan có thẩm quyền còn có thể xem xét các dấu hiệu liên quan nếu phát hiện nghi vấn về việc cưỡng ép hoặc lừa dối kết hôn. Ví dụ, một người đồng ý kết hôn vì bị đe dọa, uy hiếp tinh thần hoặc chịu sức ép khiến họ không thể tự do quyết định thì việc kết hôn có thể vi phạm quy định pháp luật.

Gia đình không được cưỡng ép hoặc cản trở kết hôn

Cha mẹ và người thân có thể đưa ra lời khuyên, nhưng không được ép buộc một người kết hôn trái với nguyện vọng của họ. Đồng thời, việc ngăn cản trái pháp luật quyền kết hôn của người đủ điều kiện cũng bị nghiêm cấm.

Các hành vi như đe dọa, gây sức ép hoặc sử dụng lợi ích vật chất để buộc người khác kết hôn có thể bị xem xét theo quy định về cưỡng ép kết hôn. Ngược lại, nếu hai người đáp ứng điều kiện kết hôn và tự nguyện quyết định, gia đình không thể chỉ dựa vào sự không đồng ý của mình để thay thế quyết định của họ.

Kết hôn phải xuất phát từ sự tự nguyện

4. Điều kiện về năng lực hành vi dân sự

Theo điểm c khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, người kết hôn không được bị mất năng lực hành vi dân sự.

Năng lực hành vi dân sự liên quan đến khả năng một cá nhân tự mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định pháp luật. Việc một người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự là vấn đề pháp lý cụ thể, không thể chỉ dựa vào nhận xét chủ quan của người thân.

Cần phân biệt giữa tình trạng sức khỏe, khuyết tật hoặc việc đang điều trị bệnh với tình trạng mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định có hiệu lực của Tòa án. Không phải cứ có bệnh hoặc khuyết tật là đương nhiên không đủ điều kiện kết hôn. Nếu có vấn đề liên quan đến năng lực hành vi dân sự, người đăng ký cần làm rõ tình trạng pháp lý của mình và thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.

5. Những trường hợp pháp luật cấm kết hôn

Ngoài các điều kiện nêu trên, khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định những hành vi bị cấm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Một số trường hợp có liên quan trực tiếp đến việc kết hôn gồm:

Đang có vợ hoặc có chồng

Người đang có vợ hoặc có chồng không được kết hôn với người khác, trừ trường hợp quan hệ hôn nhân trước đã chấm dứt theo quy định pháp luật. Ví dụ, một người đã ly thân nhưng chưa ly hôn thì về mặt pháp lý vẫn đang có vợ hoặc chồng. Việc hai người không còn sống chung không đồng nghĩa quan hệ hôn nhân đã chấm dứt.

Nếu đã ly hôn bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, người đó có thể đăng ký kết hôn mới khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện khác.

Kết hôn giả tạo, cưỡng ép hoặc lừa dối kết hôn

Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn nhằm mục đích khác mà không nhằm xây dựng gia đình, chẳng hạn để xuất nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch hoặc hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hay các mục đích khác trái quy định pháp luật.

Cưỡng ép kết hôn là việc buộc người khác kết hôn trái với nguyện vọng của họ. Lừa dối kết hôn là hành vi cố ý làm cho bên kia hiểu sai lệch về vấn đề có thể ảnh hưởng đến quyết định kết hôn, khiến họ đồng ý khi nếu biết đúng sự thật thì có thể đã không đồng ý. Những hành vi này bị nghiêm cấm. Nếu việc kết hôn đã được đăng ký nhưng vi phạm điều kiện luật định, việc xử lý có thể được thực hiện theo quy định về kết hôn trái pháp luật.

Kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ gia đình bị cấm

Pháp luật cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ và giữa những người có họ trong phạm vi ba đời. Ngoài ra, các quan hệ gia đình được liệt kê tại điểm d khoản 2 Điều 5 cũng thuộc trường hợp bị cấm, gồm:

  • Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi.
  • Giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi.
  • Giữa cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể.
  • Giữa cha dượng với con riêng của vợ và mẹ kế với con riêng của chồng.

Những quy định này nhằm bảo vệ trật tự gia đình và các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân, gia đình.

Kết hôn giữa những người cùng giới tính

Khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Quy định này cần được hiểu đúng: pháp luật hiện hành không công nhận quan hệ hôn nhân giữa những người cùng giới tính là quan hệ vợ chồng theo chế định đăng ký kết hôn. Đây là vấn đề khác với việc đánh giá quyền và lợi ích hợp pháp của từng cá nhân trong các quan hệ dân sự khác.

Những trường hợp pháp luật cấm kết hôn

6. Hồ sơ và thủ tục đăng ký kết hôn

Sau khi đáp ứng các điều kiện kết hôn, hai bên cần chuẩn bị hồ sơ và thực hiện đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền.

Đăng ký kết hôn giữa hai công dân Việt Nam trong nước

Đối với trường hợp kết hôn thông thường giữa hai công dân Việt Nam, thẩm quyền đăng ký thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định pháp luật về hộ tịch.

Hồ sơ thường gồm tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu và giấy tờ nhân thân cần thiết. Tùy tình trạng cư trú, thông tin hộ tịch và trường hợp cụ thể, cơ quan tiếp nhận có thể yêu cầu bổ sung giấy tờ theo quy định hiện hành. Người đăng ký nên kiểm tra trước với cơ quan hộ tịch nơi dự định thực hiện thủ tục, đặc biệt nếu đã từng kết hôn, có yếu tố nước ngoài hoặc thông tin hộ tịch chưa được cập nhật đầy đủ.

Các bước đăng ký kết hôn

Quy trình cơ bản gồm những bước sau:

Bước 1: Chuẩn bị giấy tờ. Hai bên chuẩn bị tờ khai và giấy tờ nhân thân theo yêu cầu. Nếu thuộc trường hợp cần chứng minh tình trạng hôn nhân hoặc bổ sung thông tin hộ tịch, cần hoàn thiện giấy tờ tương ứng.

Bước 2: Nộp hồ sơ tại cơ quan có thẩm quyền. Hai bên thực hiện thủ tục tại Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền theo quy định về đăng ký hộ tịch.

Bước 3: Cơ quan tiếp nhận kiểm tra hồ sơ. Cơ quan hộ tịch kiểm tra thông tin và điều kiện đăng ký. Nếu hồ sơ cần xác minh hoặc chưa đầy đủ, người yêu cầu thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan tiếp nhận.

Bước 4: Hai bên xác nhận việc kết hôn. Khi đáp ứng điều kiện và thủ tục, hai bên thực hiện việc ký vào sổ hộ tịch, giấy chứng nhận kết hôn theo quy định và nhận giấy chứng nhận kết hôn.

Cần lưu ý, thủ tục cụ thể và giấy tờ phải nộp có thể khác nhau tùy trường hợp, đặc biệt đối với đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, nên kiểm tra quy định và hướng dẫn đang áp dụng tại thời điểm nộp hồ sơ.

7. Đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện thì có giá trị pháp lý không?

Việc đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn không có nghĩa mọi vi phạm điều kiện đều được bỏ qua. Nếu việc kết hôn vi phạm các điều kiện theo Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đây có thể là trường hợp kết hôn trái pháp luật.

Theo Điều 11 của luật, việc xử lý kết hôn trái pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật. Tùy trường hợp, Tòa án có thể xem xét yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật khi có căn cứ và chủ thể có quyền yêu cầu theo luật định. Không phải mọi sai sót trong giấy tờ đều đồng nghĩa quan hệ hôn nhân phải bị hủy. Cần phân biệt vi phạm điều kiện kết hôn với sai sót hành chính hoặc thông tin hộ tịch cần điều chỉnh.

Nếu phát hiện có vấn đề về độ tuổi, tình trạng hôn nhân, sự tự nguyện hoặc quan hệ huyết thống, các bên nên tìm hiểu quy định áp dụng và liên hệ cơ quan có thẩm quyền để được hướng dẫn giải quyết.

Đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện thì có giá trị pháp lý không?

Câu hỏi thường gặp về điều kiện đăng ký kết hôn

1. Nam 19 tuổi, nữ 18 tuổi có đăng ký kết hôn được không?

Không. Nam phải từ đủ 20 tuổi trở lên, còn nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên. Trong trường hợp này, người nam chưa đáp ứng điều kiện về độ tuổi.

2. Hai người sống chung lâu năm nhưng không đăng ký kết hôn có được công nhận là vợ chồng không?

Việc sống chung lâu năm không tự động làm phát sinh quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc kết hôn phải được đăng ký theo quy định. Một số trường hợp chung sống trước đây có thể chịu quy định chuyển tiếp riêng, nên cần xem xét thời điểm bắt đầu chung sống và hoàn cảnh cụ thể.

3. Đã ly hôn thì có được đăng ký kết hôn lại không?

Có. Người đã ly hôn có thể đăng ký kết hôn với người khác hoặc xác lập lại quan hệ vợ chồng với người cũ khi đáp ứng các điều kiện kết hôn và thực hiện đăng ký theo quy định.

Xem thêm

Vợ có phải trả khoản nợ do chồng tự vay không?

Nợ của vợ hoặc chồng có được xem là nghĩa vụ chung?

Điều kiện đăng ký kết hôn theo pháp luật Việt Nam gồm độ tuổi, sự tự nguyện, năng lực hành vi dân sự và việc không thuộc trường hợp bị cấm. Hai bên cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện này, đồng thời thực hiện thủ tục tại cơ quan có thẩm quyền để quan hệ hôn nhân được pháp luật công nhận.

Trước khi nộp hồ sơ, nên kiểm tra giấy tờ nhân thân, tình trạng hôn nhân và thông tin hộ tịch. Nếu có yếu tố nước ngoài, từng kết hôn hoặc phát sinh vấn đề về điều kiện kết hôn, việc tìm hiểu quy định áp dụng cho trường hợp cụ thể sẽ giúp hạn chế sai sót và tiết kiệm thời gian.

Hotline: 0933.668.166
Gọi tư vấn
Yêu cầu gọi lại